Hiển thị các bài đăng có nhãn sưutầm. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn sưutầm. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 2 tháng 5, 2012

KÍNH MỪNG PHẬT ĐẢN - PL.2556 , DL.2012 (sưu tầm)







1- ĐÂU SUẤT GIÁNG THẦN.


        
            Khi xưa có một vị Bồ Tát tên là Thiện Huệ được Đức Nhiên Đăng Như Lai thọ ký đời đương lai sẽ thành Phật ở cõi Ta Bà . Sau khi nhận lãnh lời thọ ký , trải qua ba tăng kỳ kiếp tu tập hạnh bồ tát , kiếp cuối cùng Ngài thác sanh lên nội viện cung trời Đâu Suất chờ khi đủ cơ duyên để giáng trần cứu độ chúng sanh. Quán xét thấy ở cõi Diêm Phù Đề có quốc vương Tịnh Phạn cùng hoàng hậu Ma-Ya vốn có nhân duyên từ nhiều kiếp trước với Ngài và nhân duyên độ sanh đã đến nên Ngài quyết định giáng thần .

       Bấy giờ hoàng hậu Ma-Ya mộng thấy voi trắng sáu ngà từ trên không trung đi xuống vòng quanh bà ba vòng rồi mở hông bên hữu mà vào , kể từ đó bà thọ thánh thai một bậc Như Lai Đại Giác .


Ta Bà Bồ Tát ứng hiện thân

Dìu dắt chúng sanh thoát mê lầm
Độ khắp muôn loài lìa biển khổ
Sáu loài ba cõi đượm hồng ân .

2- THỊ HIỆN ĐẢN SANH .


            Vào một buổi sáng tinh sương , trên đường trở về quê cha mẹ theo tục lệ Ấn Độ để chờ ngày khai hoa nở nhuỵ , Hoàng hậu Ma-Ya ghé vào vườn Lâm Tỳ Ni và đi dạo quanh vườn , trong lúc tay vừa nâng đoá hoa Vô Ưu thì Thái tử từ bên hông trái giáng sanh . Lúc bấy giờ cả đại địa chấn động , ánh sáng lạ thường , chư thiên trỗi nhạc rải hoa cúng dường. Trên hư không có chín rồng phun nước mừng đón Thái tử Tất Đạt Đa xuất thế .
      Vừa ra đời Thái tử bước đi bảy bước với bảy đoá sen đỡ chân , một tay chỉ lên trời , một tay chỉ xuống đất và nói : " Thiên thượng thiên hạ , duy ngã độc tôn ". Ý nghĩa rằng :" Trên trời dưới trời , chỉ có trí tuệ siêu phàm của bậc Giác Ngộ mới là tôn quý ". Khi ấy là lúc mặt trời vừa mọc vào ngày rằm tháng tư năm 623 trước Công Nguyên .



Một sáng mùa xuân chim hót vang
Đón chào Thái tử chốn cung vàng
Hoá sinh bao kiếp còn chưa dứt
Độ kẻ trầm luân nghiệp lỡ mang .

3- DẠO BỐN CỬA THÀNH.


       Thái tử lớn lên trong cung vàng điện ngọc , văn võ song toàn . Năm 17 tuổi , vâng lệnh vua cha Ngài sánh duyên với công chúa  Da-Du-Đà-La và hạ sanh một con trai tên là La-Hầu -La. Một hôm Ngài xin phép vua cha đi dạo bốn cửa thành để được tiếp xúc với thần dân , nhưng nhìn thấy chúng sanh bị những nỗi khổ già , bịnh ,chết buộc ràng làm cho Ngài lòng đau vô hạn . Và sau đó Ngài gặp một vị tu sĩ tướng mạo nghiêm trang , điềm nhiên . Ngài đến chào mừng và hỏi về sự ích lợi của sự tu hành . Vị Sa môn đáp rằng :" Tu hành là dứt bỏ mọi sự ràng buộc của cõi đời , cầu cho mình khỏi khổ và thành chánh giác để phổ độ chúng sanh đều được giải thoát như mình ".
        Lời giải đáp trúng với hoài bão mà Thái tử đang ấp ủ bấy lâu nên Ngài khôn xiết vui mừng . Ngài liền trở về hoàng cung xin vua cha cho mình được xuất gia . Nhưng vua cha Ngài không chấp thuận .



Kể từ hôm ấy trở về
Thái tử suy tư mãi bận lòng
Hình bóng nhà tu luôn khắc khoải .


4- VƯỢT THÀNH TÌM ĐẠO.


         Hàng ngày , tuy sống trong cảnh giàu sang vương giả với đầy đủ mọi tiện nghi vật chất, Nhưng Thái tử vẫn mang trong lòng bao nỗi ưu tư khắc khoải về thân phận của kiếp người . Sau khi chứng kiến cảnh sanh ,già ,bệnh ,chết của chúng sanh Ngài thấm thía hơn nữa nỗi đau của kiếp nhân sinh và quyết chí xuất gia tìm đường giải thoát...
       Vua Tịnh Phạn , khi biết được ý định xuất gia của Thái tử , ngài lo sợ , tìm hết cách để cản ngăn . Thái tử yêu cầu vua cha bốn điều , nếu vua giải quyết được thì Ngài sẽ không nghĩ đến việc đi tu , để ở lại lo chăn dân ,trị nước .Bốn điều này là :

-Một, là làm sao cho con trẻ mãi không già !

-Hai, là làm sao cho con khoẻ mãi không bệnh !
-Ba, là làm sao cho con sống hoài không chết !
-Bốn, là làm sao cho mọi người đều hết khổ !

   Bốn điều này làm cho Vua cha bối rối , ông không giải quyết được điều nào cả .
   Thế rồi , vào một hôm khi  màn đêm phủ trùm khắp kinh thành , mọi người đang chìm vào giấc mộng . Ngài từ giã vợ con , bỏ lại sau lưng đền đài , cung điện , cùng người hầu Xa-Nặc cưỡi ngựa Kiền trắc , vượt dòng A-Nô-Ma quyết chí xuất gia tầm đạo .


5- CẮT TÓC XUẤT GIA .


 
       Dòng A-Nô-Ma là dấu ấn lịch sử khi Thái tử Tất Đạt Đa quyết tâm tìm cầu chân lý . Ngài tự tay cắt tóc , cởi hoàng bào gửi Xa-nặc mang về trình lại Vua cha . kể từ đây Ngài dấn thân vào con đường khổ hạnh , thoát ly thế tục , xa lìa tất cả mọi phù phiếm xa hoa , đền đài , cung điện  quyết chí tìm ra con đường giải thoát khổ đau cho nhân loại . Ngài xuất gia vào lúc nửa đêm , khi ánh trăng vàng còn in trên mặt nước . Đêm hôm ấy : Ngày mùng tám tháng hai .
    Trăng khuya như minh chứng cho nghị lực phi thường của một bậc Thánh nhân xả thân vì sự an lạc hạnh phúc cho nhân loại , giải thoát nghiệp chướng khổ đau cho chúng sanh.


Dòng sông kỷ niệm A-Nô-Ma
Vì độ chúng sanh vượt ái hà
Mồng tám tháng hai Ngài cắt tóc
Từ bỏ cung vàng quyết xuất gia .

6- SÁU NĂM KHỔ HẠNH.



           Sáu năm tu khổ hạnh nơi rừng già , biết bao chướng ngại với nhiều pháp môn Ngài tu hạnh ép xác , mỗi ngày chỉ ăn một hạt mè , một hạt gạo cho đến khi kiệt sức . Nhận thấy tu theo lối khổ hạnh ép xác không thể tìm ra con đường giải thoát , chỉ có tu theo Trung đạo là con đường duy nhất vô cùng thực tiễn ,hợp lý và hữu ích để dẫn đến sự giải thoát hoàn toàn . Vì thế , Ngài rời khỏi chỗ ngồi , đến dòng sông Ni-Liên tắm gội sạch sẽ . sau đó Ngài đến ngồi tu tập dưới cội cây Tất-Bát-La (Bồ Đề) và nhận bát sữa cúng dường từ nàng mục nữ Tu-Xà-Đề .

Sáu năm tìm đạo chốn rừng già
Khổ hạnh ai bằng Tất Đạt Đa
Chim hót trên vai sương phủ áo
Hươu kề dưới gối tuyết đơm hoa
Suy cơ tạo hoá hồn mê mẫn
Thấu rõ huyền cơ trí sáng loà
Thử hỏi ai tìm chân lý ấy ?
Bên bờ sông giác Thích Ca ta .


7- TU TẬP THIỀN ĐỊNH .



            Sau khi dùng bát sữa của nàng Tu-Xà-Đề dâng cúng , giây lát sau thân thể Ngài dần bình phục , tâm hồn sảng khoái , khí lực được phục hồi . Ngài đứng dậy đi đến bờ sông Ni-Liên Thiền thả chiếc bình bát xuống dòng nước và nói  :" Nếu ta được chứng thành Phật quả thì chiếc bình bát này phải nổi trên mặt nước và trôi ngược dòng sông ". Để minh chứng cho lời thệ nguyện của Ngài , chiếc bình bát từ từ trôi ngược dòng nước chảy . Sau đó, Ngài trở lại gốc cây Bồ Đề dùng cỏ Kiết Tường lót nơi toà ngồi, xong ngồi tư thế kiết già mà phát đại nguyện rằng :" Dù cho thịt nát xương tan , nếu không tìm ra Chánh đạo , ta quyết không rời cội Bồ Đề này ".
      ...Dòng Ni Liên vẫn êm đềm , ánh trăng khuya lung linh hoà làn nước biếc . Dưới cội Bồ Đề , đối diện ánh trăng vằng vặc , bậc vĩ nhân đã suy tư đạo lý , quán chiếu tự tâm tìm nguồn đạo cả để giải thoát chúng sanh .


Dưới gốc Bồ Đề dạ suy tư
Bao nhiêu phiền não nguyện khai trừ
Sao Mai ló dạng tròn nhân Phật
Ta Bà an đắc hạnh Bổn Sư .


8- HÀNG MA THÀNH ĐẠO.


    
         
           Bốn mươi chín ngày đêm dưới cội Bồ Đề ngồi thiền tu tập , quán chiếu nội tâm , Ngài đã trãi qua biết bao hiểm nguy bởi nạn quỷ dữ, ma vương , những cám dỗ của ý thức,những ma chướng của tự thân, chúng hoá thân thành các yêu nữ dùng lạc thú để cám dỗ hòng làm lung lạc ý chí của Ngài . Nhưng tất cả đều bị khuất phục trước sự kiên định và nghị lực phi thường của một bậc vĩ nhân xuất thế . Mặc cho những chướng ma quấy phá...Ngài vẫn điềm nhiên ngồi vững dưới cây Bồ Đề , trên trán một vầng hào quang chiếu rực rỡ . Màn đêm dần xuống , đến canh hai trời đất trở lại yên tĩnh và trong suốt như gương . Ngài chứng được quả "Túc Mạng Minh" - Trí tuệ siêu phàm . Đến nữa đêm , Ngài chứng được quả "Thiên Nhãn Minh"- Thấy rõ tất cả bản thể của vũ trụ . Đến canh tư , Ngài chứng được quả "Lậu Tận Minh"- Rõ biết nguồn gốc của sự đau khổ đã bám víu vào chúng sanh như bóng dính theo hình . Cuối cùng , khi ánh sao mai vừa ló dạng, Ngài đã chứng quả " Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác" . Hôm ấy là ngày mùng tám tháng chạp.


Dưới cội Bồ Đề đức Thích Ca
Bốn chín ngày đêm toạ kiết già
Sao Mai ló dạng Ngài giác ngộ
Hàng phục não phiền dẹp chướng ma.
 


9- THUYẾT PHÁP ĐỘ SANH .


        Sau khi thành đạo , Ngài đến vườn Lộc Uyển xứ Ba-La-Nại . Lần đầu tiên Đức Phật chuyển pháp luân , khai thị cho năm anh em ông Kiều Trần Như , Ác Bệ, Thập Lực Ca Diếp , Ma Ha Nam và Bạc -Đề về pháp Tứ Diệu Đế - Bốn chân lý nhiệm mầu Khổ-Tập-Diệt-Đạo , nói rõ về cái khổ của thế gian và con đường diệt khổ để đem đến sự an lạc , hạnh phúc cho nhân sinh. Kể từ đây ngôi Tam Bảo thường trụ thế gian đã hình thành . Ánh sáng tỉnh thức từ lời dạy của bậc Đại Giác đã được ngôi Tăng bảo truyền bá dần lan toả xuống khắp mọi nơi trên quả đất này .


Đạo thành vang dội khắp muôn phương
Nhìn thấy chúng sanh chẳng lối đường
Đức Phật trầm ngâm chưa chuyển pháp
Phạm thiên thấu hiểu lễ pháp vương .


10- BÀI PHÁP CUỐI CÙNG .



            Suốt bốn mươi chín năm giáo hoá tại thế gian , Đức Phật đã đem sự tu chứng của Ngài để hoá độ cho tất cả mọi tầng lớp trong xã hội , từ hàng vua chúa đến kẻ bần hàn . Ngài thành lập Tăng đoàn và đi giáo hoá khắp nơi , tuỳ căn cơ của chúng sanh mà thuyết pháp , hầu chuyển hoá khổ đau thành an lạc giải thoát .
"Chúng sanh vô biên thề nguyện độ". Là thể hiện tình thương vô bờ của đấng Giác Ngộ . Từ bi thương xót muôn loài đang còn lặn hụp trong biển luân hồi , sanh tử .Cả cuộc đời của Đức Phật , Ngài luôn đem lại sự an lạc giải thoát cho chúng sanh.


Bốn mươi chín năm độ chúng sanh
Ngày nay quả mãn với công thành
Thị hiện có sanh thì có tử
Như Lai trở lại Niết bàn thành.


11- THỊ HIỆN NIẾT BÀN .


         
            Ngày trăng tròn tháng hai Ấn Độ , nhận thấy nhân duyên giáo hoá chúng sanh trong cõi thế gian đã hoàn tất , Đức Phật đến thành Câu -Thi-Na , nơi rừng Ta-La-Song-Thọ. Ngài nhóm họp các hàng đệ tử thuyết bài pháp cuối cùng , và tuyên bố :" Đêm nay Như Lai sẽ nhập đại định Niết Bàn".
      ...Cả đại địa chấn động , cảnh vật tang thương , bầu không khí ảm đạm đã phủ trùm cảnh rừng Ta-La-Song-Thọ , muôn vật như nói lên tiếng bi thương tự đáy lòng khi không còn bậc đạo sư ở thế gian nữa ...
          Đêm hôm đó , Đức Như Lai nhập đại định Niết Bàn , lưu lại Xá Lợi cho khắp cõi nhơn thiên , năm ấy Ngài 80 tuổi .



Ta-La-Song-Thọ Phật Niết Bàn

Xá Lợi lưu bố khắp trần gian
Tám mươi tuổi chẳn duyên trần hết
Theo luật vô thường họp lại tan .

******

"Đản sanh Ca-Tỳ-La
Thành đạo Ma-Kiệt-Đà
Thuyết pháp Ba-La-Nại
Nhập diệt Câu-Thi-Na"

           Cuộc đời và con đường hoằng pháp của Đức Phật , từ lúc Đản sanh đến khi nhập diệt Ngài đã đem đến tình thương yêu bao la đối với muôn loài , cứu vớt chúng sanh ra khỏi biển khổ sanh tử luân hồi .
"Này các đệ tử ! Hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi , hãy lấy Pháp của ta làm đuốc , hãy theo Pháp của ta mà tự giải thoát . Mọi vật ở đời không có gì quý giá, thân thể rồi sẽ tan rã, chỉ có Đạo ta là quý báu , chỉ có chân lý của Đạo ta là bất di bất dịch. Hãy tinh tấn lên để giải thoát".
Lời dạy đó của đấng đạo sư vẫn còn vang mãi , để cho muôn loài sống trong tinh thần hiểu biết thương yêu, và đó cũng là hành trang tu tập trên lộ trình giác ngộ giải thoát .

Thứ Sáu, 30 tháng 3, 2012

MEANING OF LIFE . (Collect)

      A long time ago, there was a young man who wanted to find the meaning of life. He traveled from the sea to the mountain to do that.
 

      One day, he saw a butterfly trying to move with its new wings. The new wing is weak, so it it very hard for the butterfly to move. Nearby, another butterfly was trying to get out of its cocoon. Wanted to help, he broke the cocoon and the new butterfly easily got out.
 The new butterfly tried to open its wings but could not, and then became quiet, silent in death. The young man felt so sad. The butterfly could have got out of its cocoon, opened its wings and flied high on the sky if he had not helped it. It should not have died in that way!
 

      What can we learn from the young man’s story? Let others do their work by themselves. No one should do for another what that person can do alone. Sometimes, our help is not neccessary and even it may destroy everything. That is the rule of life.

Thứ Tư, 12 tháng 10, 2011

NHỮNG NGƯỜI ĐÀN ÔNG CHUNG TÌNH NHẤT THẾ GIỚI ( Sưu tầm )


Rất nhiều nhà văn , nhà thơ , họa sĩ ,chính trị gia được cả thế giới biết đến và ca ngợi họ như những thần tượng . Họ nổi tiếng không chỉ bởi tài năng kiệt xuất cùng với những tác phẩm sống mãi với thời gian, mà còn bởi sự chung tình của họ .... Đenxixi đã sưu tầm và xin giới thiệu dưới đây với bà con ,cô, bác ,anh ,chị ,em ...... một số người Đàn ông chung tình nhất thế giới :

1. Các Mác (1818-1883).

Ông cất tiếng khóc chào đời tại thành phố Tơ-ve-rơ , thuộc khu vực sông Rai-nơ nước Đức. Ngay từ thưở thiếu thời, Mác đã dành cho cô bạn hàng xóm hơn mình 4 tuổi là Gien-ny Phôn-vét-pha-len những tình cảm đặc biệt . Năm Mác tròn 18 tuổi , rất khỏe mạnh , Gien-ny 22 tuổi , tuyệt đẹp , hai người đã đính hôn với nhau , mặc cho sự cấm đoán , đe dọa của gia đình Gien-ny. Trong suốt thời gian sau đó , Mác liên tục tặng Gien-ny những bài thơ tình cất lên từ sự rung động của trái tim mình , nhiều bài thơ trở thành kiệt tác .Ba năm sau , Gien -ny đã nhận được 3 tập thơ tình do Mác viết tặng. Sau khi bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ năm 24 tuổi , năm 1843 Mác và Gien-ny cưới nhau .
Suốt những năm tháng sau này , dù ở Đức ,Pháp,Bỉ,Anh....nhiều lần bị chính quyền các nước trục xuất, theo dõi, đe dọa , Mác vẫn một mực thương yêu, chăm sóc và mang vợ con theo mình trong suốt cuộc hành trình 38 năm trên con đường cách mạng vô sản. Năm 1881 , Gien-ny qua đời để lại cho Mác sự nhớ thương vô hạn , một nỗi đau lớn về tinh thần . Hai năm sau đó Mác qua đời .

2. Các-Vinhem (1776-1835).

Ông là một nhà thơ, chính trị gia kiệt xuất của nước Đức sau thời kỳ Phục hưng . Năm 1791 , ông kết hôn với Carolin von Datcodu. Trong suốt gần 40 năm chung sống bên nhau , cả 2 người vô cùng hạnh phúc , ông dành cho vợ tất cả sự thương yêu và không ngày nào không viết tặng vợ  một bài thơ tình . Sau khi bà Carolin mất năm 1829, ông vẫn tiếp tục làm thơ tình để mỗi sớm mai thức dậy , ông lại nghiêng mình xót thương đặt lên mộ vợ và đọc thơ bằng tất cả trái tim mình , suốt 6 năm như vậy cho tới khi ông từ giã cõi đời.

3. Mác-Tuên (1835-1910).

Ông là một nhà văn trào phúng nổi tiếng của Mỹ và cả thế giới . Với tâm trạng tràn đầy hạnh phúc trong lễ cưới của ông với cô người yêu xinh đẹp , cũng là một đọc giả cuồng nhiệt tên là Olivia Lenđơ , ông đã sung sướng thốt lên : " Nàng là viên ngọc hoàn hảo nhất của nữ giới mà đời tôi được biết" . Vì vậy ông luôn dành mọi tình thương yêu và  sự chăm sóc , cũng như lấy hình ảnh của vợ làm nhân vật chính cho nhiều tác phẩm - nhiều trong số những tác phẩm đó đã trở thành kiệt tác . Nhưng hạnh phúc không trọn vẹn với ông khi người vợ yêu thương qua đời vì một căn bệnh hiểm nghèo . Ông đau đớn và suy sụp . Rất nhiều ngày ông ngồi lặng lẽ bên mộ vợ cùng với dòng chữ : " Thượng đế có thể nhân từ với nàng không , ôi nguồn hạnh phúc mến yêu muôn thưở của tôi". Cuối cùng ,không chịu nổi sự thiếu vắng trong ngôi nhà đầy ắp tình yêu thương và tràn trề hạnh phúc  của 2 người , ông đã chạy trốn khỏi Niu-Yooc.

4. Rômanh-Garây (1914-1980).

Ông là nhà văn Pháp nổi tiếng với khá nhiều vở kịch của mình, ông đã yêu thương và cưới một nữ diễn viên xinh đẹp, giỏi giang . Năm 1979 vợ ông tự tử do bế tắc về một số việc cá nhân. Sau khi người vợ qua đời, ông cảm thấy cuộc đời mình trở nên thừa thãi và vô nghĩa . Tháng 12 năm 1980, sau nhiều năm sống dật dờ như kẻ mất hồn , ông đã dùng súng tự kết liễu đời mình.

5. Ê-Tuốt-Dang (1681-1765).

Ông là một nhà thơ được sinh ra và lớn lên trong thời kỳ nước Anh vừa hoàn thành cách mạng tư sản và đang tiến hành cuộc cách mạng công nghiệp với rất nhiều sự nhiễu nhương và phức tạp của xã hội . Mặc dù là một chàng trai con nhà lành , chưa vợ nhưng ông vẫn quyết định lấy  bà Elizabet - một phụ nữ góa chồng đã có 2 con  làm vợ , mặc cho búa rìu dư luận và giới trẻ Anh  kịch liệt phê phán. Suốt 10 năm chung sống hạnh phúc , ông coi con riêng của vợ như con đẻ của mình, chăm sóc vợ chu đáo , tận tụy . Nhưng do số phận run rủi , cả 3 mẹ con Elizabet qua đời để lại cho Dang một sự hụt hẫng và một nỗi đau không thể khỏa lấp được . Trong
nhiều ngày dằn vặt cùng những kỷ niệm ngọt ngào với vợ con mình , ông đã cho ra đời trường ca bất hủ " Đêm trường". Với kiệt tác này , tên tuổi ông được sánh ngang hàng với những thi sĩ xuất sắc nhất Châu Âu thời bấy giờ.Nhưng danh vọng , vinh danh và sự ca tụng , ái mộ của mọi người không làm nguôi ngoai nỗi đau đớn trong lòng ông. Nỗi xót thương về người vợ quá cố đã khiến ông bỏ viết và sống ẩn dật đến lúc qua đời .

6. Phêđô-Đôtxtôiepxki (1821-1881).

Ông là một văn hào Nga , Tên tuổi của ông lẫy lừng , nhưng lại bất hạnh trong tình duyên. Khi người vợ thứ nhất bị bệnh lao qua đời , rất lâu sau đó ông mới kết hôn với Anna Grigoniepna- người thiếu nữ kém ông rất nhiều tuổi -từ lâu đã thầm yêu trộm nhớ và luôn ở bên cạnh suốt những tháng ngày ông đau đớn , dằn vặt và suy sụp vì sự ra đi vội vã của người vợ trước . Ông đã dồn tất cả tình yêu thương cho Anna. Trước lúc lâm chung, ông nhìn thật lâu với đôi mắt đắm đuối dành cho người vợ trẻ, rồi cho gọi các con tới để trăng trối. Ông nhắc nhở chúng phải kính yêu, phụng dưỡng và nghe lời mẹ . Lời trăng trối cuối cùng bật lên từ trái tim ông dành cho người vợ trẻ:" Anna , em hãy nhớ rằng bao giờ anh cũng rất yêu em và không bao giờ phản bội em, ngay cả trong ý nghĩ ".

7. Gabrien-Rôxêti (1828-1882).

Ông là một họa sĩ ,nhà thơ theo trường phái lãng mạn rất nổi tiếng của Anh . Khi người vợ yêu quí của ông qua đời năm 1862, ông như một kẻ điên loạn và không sáng tác được nữa. Đau đớn đã làm ông quẫn trí, chôn theo vợ hộp đựng tập bản thảo duy nhất của mình viết dành tặng vợ khi còn sống. Sau khi bạn bè và rất nhiều người thân yêu của ông khuyên nhủ, lúc cải táng vợ xong ,ông mới cho đào tập thơ lên và xuất bản . Ngay lập tức , tập thơ của ông được đánh giá là một kiệt tác và tên tuổi của ông trở nên rạng rỡ trên văn đàn.

Thứ Sáu, 9 tháng 10, 2009

ĐỐ AI ĐỊNH NGHĨA ĐƯỢC TÌNH YÊU ? (sưu tầm)



ĐỐ AI ĐỊNH NGHĨA ĐƯỢC TÌNH YÊU ?






***


Xưa cũng như nay , con người vẫn nói đến tình yêu , có người kêu dễ , có người kêu khó . Vậy tình yêu thật sự là gì ?
Sau đây là bản tổng kết của tờ báo gia đình Singapore có tham khảo cả quan niệm Đông , Tây .

1- Tình yêu phải có sự ngưỡng mộ đủ để tôn trọng và nể phục lẫn nhau .


2- Tình yêu phải có thói quen hay nói một cách khác là thời gian để hiểu nhau kỹ càng hơn.


3- Tình yêu phải có sự hấp dẫn dù chỉ là hấp dẫn bởi âm điệu của "người ta" khi nói chuyện qua điện thoại.


4- Tình yêu phải có tình thương để tồn tại. Nếu chỉ yêu không thôi mà không có tình thương để quan tâm tới mọi sự của nhau thì tình yêu đó có lẽ chỉ là thứ tình cảm ảo.


5- Tình yêu phải có thời điểm. Nó sẽ đến lúc ta đang cần và dĩ nhiên phải biết "đi" khi nó thực sự không phải thuộc về ta và cho ta .


6- Tình yêu rất cần sự chia sẻ , những chia sẻ mà bạn bè không thể chia sẻ được.


7- Cái quan trọng nhất của tình yêu là yếu tố thời gian , thời gian là một phương thuốc thử nghiệm hữu hiệu . Không có và không bao giờ có thứ tình yêu "sét đánh" , không có thời gian mà suy xét nữa .

Chủ Nhật, 20 tháng 9, 2009

THƯ GIÃN...THƯ GIÃN







TRUYỀN THUYẾT VỀ ĐÀN BÀ (Sưu tầm)

***


Ngày xưa , Thượng Đế tạo lập ra trái đất với muôn lòai động , thực vật. Trái đất được bao phủ một màu xanh bởi cây cỏ , núi non , sông biển. Trên rừng có muông thú, dưới nước cũng có muôn loài thủy tộc. Sinh thái cân bằng và cảnh vật thật hài hòa. Ngài lấy làm hài lòng lắm.
Một hôm , trong buổi ngồi uống trà với các chư thần ,thánh...ngắm các hành tinh trong vũ trụ ( như chúng ta ngày nay ngắm hòn non bộ vậy ), chợt một vị thần đứng lên tâu :
" Thưa Thượng Đế ! Thần xin chúc mừng Ngài vừa tạo được một hành tinh đẹp đẽ . Nhưng thưa Ngài ! Những lòai mà Ngài tạo ra , không có lòai nào đủ trí khôn để tôn vinh công đức của Ngài, như thế c
hẳng uổng phí lắm ru ? Xin Ngài hãy tạo thêm một lòai nữa , chỉ một loài nữa thôi để làm công việc tôn vinh Thượng Đế và cũng để thay mặt Ngài điều hành mọi sinh hoạt dưới trần gian."

Thượng Đế nghe cũng có lý bèn truyền thưởng cho vị thần nọ mấy chung ngự tửu , đồng thời cho triệu tập bộ phận thi công đến, chỉ đạo cho thiết kế một sinh vật mới , lấy theo hình dáng của chư thần thánh, đặt cho tên gọi là "Con người". Chư thiên thần , mỗi người tùy theo khả năng đóng góp thêm vào , kẻ thì một ít trí khôn, kẻ thì một ít tài năng ,một ít dũng cảm..v..v...Ai cũng muốn sinh vật mới này thật hoàn thiện để đại diện Thượng Đế thống trị trái đất.

Con người đầu tiên được hình thành là một người Đàn ông có ba chân , để luôn đứng vững trên địa hình nhiều núi non hiểm trở mà Thượng Đế đã lỡ tạo ra. Bản mẫu được nhân ra nhiều triệu bản và đưa xuống trái đất.

Bẳng đi một thời gian bận rộn , thượng giới không lưu tâm đến trái đất nữa . Một hôm có vị thần đi công tác xa, thuận đường ghé qua thăm trái đất. Vừa đến nơi, nhìn thấy cảnh tượng đang xảy ra, vị thần nọ vội vã bay về trời báo cho Thượng Đế. Thiên đình tổ chức ngay cuộc họp khẩn cấp.

Thì ra con người được ban cho quá nhiều ân sủng, đã chẳng những không biết ơn Thượng Đế mà lại còn manh nha ý đồ làm loạn . Bọn chúng an nhàn quá nên họp nhau lại làm đủ thứ chuyện động trời. Nhờ có ba chân , nên chúng leo được lên tận mây . Từ đó chúng bàn nhau ,tính bắt thang lên tận Thiên đình quậy phá.

Được tin này , cả Thiên đình nhốn nháo, mỗi vị bày một cách để trị bọn người trần gian, có vị bàn nên diệt hết đi cho rảnh nợ, nhưng ý kiến này nhanh chóng bị bác bỏ , vì bọn người dám có ý đồ làm loạn Thiên cung thì không thể xử nhẹ nhàng như thế được, phải làm cho chúng vừa không thể thực hiện ý đồ đen tối ,vừa phải chịu một sự trừng phạt triền miên, khủng khiếp nhất để làm gương cho các hành tinh khác. Có vị thần đề nghị cho mỗi con người đeo một cái "gông" thật nặng, mặt trong đầy những gai nhọn , lúc nào cũng cào xé da thịt. Quần thần đồng ý, nhưng việc bắt cho được từng thằng người để đeo "gông" là một vấn đề nan giải. Cả Đại hội đang điên đầu, một vị thần trẻ, bấy lâu nay nổi tiếng thông minh bước ra trước sân chầu hiến kế "Dĩ độc công độc". Trước tiên phải làm cho chúng không thể leo được lên mây bằng cách hóa phép cho teo bớt một chân , tiếp theo đó , dùng một cái "gông" có hình dáng con người, tương tự như lũ đàn ông nhưng tính cách phải khôn ngoan , quỷ quyệt hơn để trị bọn họ, làm sao để không cần tìm bắt mà từng tên đàn ông một sẽ tự dẫn xác đến đút cổ vô "gông" . Muốn vậy cái "gông" này phải thật đẹp đẽ , hấp dẫn để dụ được con mồi là bọn đàn ông. Bộ phận thi công với nhiều họa sĩ chuyên thiết kế , tạo mẫu lại bắt tay vào thực hiện , các ác thần gom góp mỗi người một ít ,  nào là  ích kỷ , đanh đá , gian dối , tham lam ..v..v...Cuối cùng sinh vật mới được hình thành với tên gọi là  "Đàn bà".

Đàn ông dưới trần gian tự dưng thấy mình teo mất một chân , không thể leo lên tận mây , lòng rất buồn bực . Nhân bắt được một số sinh vật lạ, đem về thuần hóa nuôi trong nhà làm nô lệ.Một thời gian sau, xã hội Đàn ông đang yên bình bỗng có nhiều triệu chứng chuyển biến bất thường . Đàn ông không còn lê la túm tụm với nhau để bàn chuyện lên trời nữa mà lại giành nhiều thời gian săn bắt và chăm sóc cho tên nô lệ của mình. Tinh thần đòan kết cũng không được như xưa , ai cũng lo vun vén cái hang ổ , cái mã bề ngòai , rồi tranh cướp , rồi đánh nhau , giành giật những tên nô lệ , giành giật của cải  để ....phục vụ cho những tên nô lệ. Những trận đánh nhau lẻ tẻ chuyển hóa dần thành chiến tranh. Bọn đàn ông không còn ung dung tự tại nữa  , vị trí chủ và nô lệ cũng dần được thay đổi. Họ luôn phải lo toan , ngày đêm phải cố sức làm việc  để đáp ứng cho những nhu cầu đòi hỏi của nô lệ, những nếp nhăn xuất hiện thay cho nụ cười thường trực trên khuôn mặt họ trước đây. Bây giờ họ đã biết kêu lên " Trời ơi " một cách thảm thiết.

Nghe vị thần có trách nhiệm theo dõi những chuyển biến ở trái đất về báo tình hình , Thượng Đế lấy làm hài lòng lắm , Ngài phán : "
Hay lắm ! Giờ thì bọn chúng tha hồ đau khổ , hết còn đòi lên mây nữa !". Chợt có vị thần nọ lên tiếng:"Bẩm Thượng Đế , thần không hiểu vì sao cái bọn người ấy lại ngu ngốc đến thế , cái ngày chúng bắt đầu đeo gông , chúng lại có vẻ hí hửng lắm lắm , làm cả một cái tiệc thật to để ăn mừng gọi là "Hôn lễ" hay "Đám cưới" gì gì đó. Ngoài ra , chỉ còn hai chân và cái chân teo kia mà thần nghe có tên vẫn còn nói là lên đến tận chín tầng mây ". Thượng Đế nghe qua lấy làm ngạc nhiên lắm , Ngài sai vị thần có trách nhiệm tiếp tục tiến hành điều tra, đồng thời truyền gọi vị thần trẻ trước đây đã hiến kế hay đến nhận thưởng . Mãi một lúc thật lâu vị này mới đến. Cả Thiên đình ngạc nhiên , không tin được vào mắt mình. Trước mắt họ còn đâu phong nghi tuấn tú , cốt cách tiên thần , giờ chỉ còn hình dạng bơ phờ , hốc hác , trông già đi cả ...ngàn tuổi !

Thì ra trong lúc sản xuất hàng lọat "gông" để đưa xuống trị bọn đàn ông  dưới trần gian , vị thần trẻ này giữ lại một cái định nghiên cứu , cải tiến thêm cho hòan thiện hơn , nào ngờ.......!

Nghe đâu thời gian sau đó , Thượng Đế cũng chẳng được yên . Vị thần nào cũng muốn trực tiếp nghiên cứu thử , rồi kẻ có "gông", người không có , sinh ra nhiều nỗi bất bình .  Không biết Thượng Đế giải quyết ra sao mà hiện nay như chúng ta nghe nói , trên ấy cũng có rất nhiều tiên nữ .

Con người khi quá khổ thì kêu "Trời ơi !" , còn trên ấy họ kêu ai nhỉ ?....
Ôi ! Thật đáng thương!


Tác giả : Phạm văn Đông

Thứ Tư, 9 tháng 9, 2009

NHẬN ĐỊNH CỦA KHỔNG TỬ về GIỚI MÀY RÂU. ( Sưu tầm )



NHẬN ĐỊNH CỦA KHỔNG TỬ về GIỚI MÀY RÂU.


-Quân tử thư thái mà không kiêu căng . Tiểu nhân trái lại, kiêu căng cũng luôn lo lắng.

-Sự khác biệt rõ nét giữa quân tử và tiểu nhân là : Quân tử lúc khốn cùng thì biết kiềm chế, giữ mình , còn kẻ tiểu nhân lúc cùng đường thường hay làm bậy.

-Quân tử lấy đức nghĩa làm trọng và ham làm việc nghĩa. Kẻ tiểu nhân chỉ thấy cái lợi trước mắt.

-Quân tử thường hổ thẹn về lời nói quá khích so với việc làm của mình.Tiểu nhân ngược lại ,Một lời đã trót nói ra , biết là ...4 ngựa , dể dàng bỏ qua.

-Cố làm ra ở lời nói ấy là hoa hòe , cố làm ra ở việc làm , ấy là khoe khoang.

-Ngoài mặt khôn mà không có tài năng , ấy là kẻ tiểu nhân vậy .

-Đạo quân tử có 4 điều đúng :
*Mạnh dạn khi làm điều nghĩa.
**Nhũn nhặn khi nghe lời can dán.
***Lo nghĩ khi nhận bổng lộc.
****Cẩn thận với việc sửa thân mình.

-Người quân tử chỉ sang ở cốt , không sang ở mã.

-Ngồi bàn tiệc đừng ra vẻ anh hùng, vì rượu đã làm cho lắm người gục ngã.

-Quân tử ăn không cầu no,ở chẳng cầu yên.Quân tử chỉ cầu ở mình , không cầu ở người. Việc làm lúc chưa được thì vui với ý muốn, lúc được rồi thì vui với kết quả. Vì vậy nên lúc nào cũng vui, còn kẻ tiểu nhân lúc lo không được , lúc lại sợ mất cho nên lúc nào cũng lo sợ , bất an.

P/S : Hình minh họa là tác phẩm David của Michelangelo.